Văn bản mới

08/05/2018 08:39:49 AM

Đề án cải cách chính sách BHXH được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII cho ý kiến tại Hội nghị lần thứ 7 (diễn ra từ ngày 7 đến 12/5). Trao đổi với phóng viên Báo BHXH, Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Doãn Mậu Diệp đã nhấn mạnh về những điểm nổi bật của dự thảo Đề án này.

* PV: Sau hơn 20 năm Việt Nam triển khai thực hiện chính sách BHXH, ông đánh giá thế nào về chính sách BHXH hiện hành?

- Ông Doãn Mậu Diệp:

Phải khẳng định rằng, chính sách BHXH luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, vì đây là chính sách an sinh, bảo đảm công bằng, được coi là động lực đối với sự phát triển bền vững của đất nước, nhằm mục tiêu không để ai bị bỏ lại phía sau.

Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Doãn Mậu Diệp

Chính sách BHXH đã xuất hiện từ lâu trên thế giới. Ở Việt Nam, bắt đầu từ những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX, chính sách BHXH bao gồm các chế độ: Hưu trí, tử tuất; còn các chính sách khác như ốm đau, thai sản, BNN, BH thất nghiệp chưa đề cập đến. Giai đoạn này, chính sách chỉ đề cập, áp dụng cho lao động khu vực nhà nước; còn lao động tự do, lao động tư nhân chưa tham gia.

Chính sách BHXH thực sự mở rộng đến mọi DN, thuộc mọi thành phần kinh tế từ năm 1995. Cũng từ năm 1995, chính sách về BHXH với các chế độ như: Hưu trí, tử tuất, ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN chính thức được mở rộng ra tất cả thành phần kinh tế. Chính sách BH thất nghiệp là một trong những nội dung của chính sách BHXH bắt đầu được triển khai từ năm 2009.

Mặc dù thời gian mở rộng chưa lâu, nhưng đạt được nhiều kết quả quan trọng. Ví dụ, chính sách khá toàn diện, hầu như bao quát được các thành phần theo thông lệ quốc tế (có hưu trí, tử tuất, ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN, có BH thất nghiệp…). Mặt khác, chúng ta có chính sách BHXH tự nguyện, có nghĩa là đã mở rộng chính sách BHXH từ nhóm có quan hệ lao động sang nhóm không có quan hệ lao động. Do đó, lao động trong khu vực phi kết cấu, lao động tự do đều có thể tham gia BHXH.

Hệ thống chính sách BHXH được thiết kế, điều chỉnh, vận hành ngày càng phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế; gắn với thị trường lao động, thúc đẩy thị trường lao động phát triển, xây dựng, hoàn thiện quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ. Quỹ BHXH trở thành quỹ an sinh lớn nhất, hoạt động theo nguyên tắc đóng- hưởng, chia sẻ và có thể tiếp cận với nhiều nhóm đối tượng người lao động. Qua đó, góp phần nâng cao năng lực tự bảo đảm an sinh của người dân, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào Nhà nước.

Diện bao phủ BHXH ngày càng mở rộng. Quy mô tăng lên, mức đóng tăng lên, chế độ hưởng BHXH cao hơn. Mô hình tổ chức thực hiện chính sách BHXH phù hợp, cơ quan hoạch định, quản lý nhà nước là Bộ LĐ-TB&XH, cơ quan sự nghiệp thực hiện là BHXH Việt Nam; chi phí vận hành hệ thống BHXH lấy từ lãi đầu tư. Nhiều TTHC được cải cách đã tạo niềm tin cho người dân vào hệ thống BHXH…

* Chính sách BHXH tại Việt Nam được đánh giá rất ưu việt, mở rộng diện bao phủ đến tất cả mọi người dân. Vậy, còn những bất cập của chính sách là gì, thưa ông?

- Thứ nhất là diện bao phủ BHXH còn thấp. Theo mục tiêu đề ra, đến năm 2020 có 50% lực lượng lao động tham gia BHXH. Tuy nhiên, hiện nay, tỉ lệ tham gia mới đạt khoảng 29%- rất khó đạt được mục tiêu. Quy định của pháp luật hiện hành chưa hướng đến BHXH toàn dân. Một số nhóm có khả năng tham gia và mong muốn tham gia chưa được quy định trong luật (ví dụ như các chủ DN, người làm việc tự do). Trong khi đó, Việt Nam có hơn 90% DN vừa và nhỏ, nhưng quy định đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là NLĐ làm việc trong các DN, còn ông chủ DN bị bỏ sót. Trong bối cảnh có quá nhiều DN vừa và nhỏ, những ông chủ hết tuổi lao động, không còn khả năng kinh doanh lại trở lại không được hưởng các chính sách BHXH.

Thứ hai là quy mô tham gia BHXH trên thực tế khá thấp. Ở Việt Nam có gần 600.000 DN, nhưng có tới hơn 300.000 DN chưa đóng BHXH cho NLĐ. Điều này có thể hiểu được, vì DN Việt Nam rất nhỏ, có 88% DN sử dụng dưới 10 lao động. Những DN chưa tham gia BHXH đa phần là DN siêu nhỏ. Việc tuân thủ luật pháp chưa tốt, nên còn khá nhiều DN chưa tham gia.

Thứ ba là tỉ lệ đóng- hưởng, chia sẻ, bảo đảm tính bền vững của quỹ BHXH chưa theo đúng nguyên tắc. Tỉ lệ đóng- hưởng đã được thực thi, đóng nhiều hưởng nhiều, đóng ít hưởng ít, nhưng ở các nước tiên tiến phải hướng đến sự chia sẻ. Trong khi đó, việc thiết kế chính sách của ta thời gian qua chưa hợp lý, có người lương hưu tới hơn 100 triệu đồng nhưng có người lương hưu chỉ dưới 1,3 triệu. Mỗi lần Nhà nước điều chỉnh tăng lương hưu 7%, thì người hưởng lương hưu 100 triệu sẽ được thêm 7 triệu đồng/tháng (tương đương với vụ trưởng), còn người hưởng lương hưu ở mức 1,3 triệu chỉ được tăng 91.000 đồng/tháng.

Bên cạnh đó, chính sách BH thất nghiệp quá chú trọng giải quyết hậu quả. Khi NLĐ đã thất nghiệp, không thiết kế các chính sách để phòng ngừa, giảm thiểu tác động của tình trạng thất nghiệp. Hiện nay, chúng ta mới có chính sách hỗ trợ người thất nghiệp hưởng trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ đào tạo nghề, giới thiệu việc làm mới, chứ chưa có chính sách hỗ trợ DN duy trì việc làm, tránh sa thải lao động, chưa có chính sách thu hút những NLĐ thất nghiệp dài hạn quay trở lại làm việc.

Thông thường, các nước thiết kế chính sách, chẳng hạn như Hàn Quốc, trong trường hợp DN có nguy cơ phải sa thải nhiều lao động (mà lực lượng lao động này rất khó tìm việc làm mới), thì họ sẽ hỗ trợ một phần tiền lương. Thời gian qua, chúng ta nói nhiều đến các DN sa thải lao động dưới 35 tuổi trong ngành dệt may, da giày, khiến người bị sa thải không biết làm việc gì... Do đó, chính sách phải chú trọng tới nguyên tắc phòng ngừa, chứ không phải là xử lý hậu quả. Nhất là nếu có cơ chế hỗ trợ DN ổn định sản xuất, sẽ giúp thực hiện được mục tiêu mở rộng diện bao phủ.

Nhiều địa phương vì chủ trương thu hút đầu tư, nên xử lý vi phạm về BHXH còn rất hạn chế, dẫn đến tình trạng trốn đóng, nợ đóng, nên khi DN phá sản, chủ DN bỏ trốn vẫn nợ BHXH. Nếu có sự kiểm tra thường xuyên, ngay từ đầu, thì chuyện này không thể xảy ra.

Bên cạnh đó, nhiều chủ DN và NLĐ hiểu rất hạn chế về BHXH. Sự nhận biết chưa đầy đủ về chính sách, khiến một số lao động chấp nhận thương lượng tiền lương, không tham gia BHXH, dẫn đến bị mất quyền lợi đáng tiếc.

Mặt khác, trong bối cảnh già hóa dân số, 10 năm trước mỗi năm có khoảng 1,7 triệu người bước vào độ tuổi lao động, nhưng hiện nay chỉ có khoảng 1 triệu người. Để ứng phó với tình trạng già hóa dân số, các nước phải từng bước nâng tuổi nghỉ hưu, tăng thời gian làm việc để có đủ nguồn lực cần thiết. Các nước phát triển kinh tế thị trường, thị trường lao động hoàn hảo, thì việc thay đổi công việc đang làm sang công việc khác khá phổ biến, trong khi tâm lý ở ta không làm được nữa thì tính đến tuổi nghỉ hưu.

Hay như, các nước đều yêu cầu lao động nước ngoài đóng BHXH, với lý do để bảo vệ việc làm trong nước. Ví dụ NLĐ có mức lương 15 triệu, nếu SDLĐ trong nước bắt buộc phải đóng BHXH thì số tiền phải chi trả cho lao động đó hằng tháng cao hơn 15 triệu, trong khi SDLĐ nước ngoài không phải đóng BHXH thì họ sẽ ưu tiên SDLĐ nước ngoài. Như thế, việc làm trong nước sẽ không bảo vệ được, dẫn tới tất yếu phải có cải cách BHXH để khắc phục những hạn chế, yếu kém.

* Vậy, những điểm mới về chính sách BHXH được đề cập tại dự thảo Đề án cải cách chính sách BHXH lần này là gì, thưa ông?

- Chính sách BHXH sẽ có những nội dung cải cách rất mới, rất căn bản, khẳng định mục tiêu hướng tới BHXH toàn dân; xây dựng hệ thống BHXH với chương trình hưu trí đa tầng. Tầng một là lương hưu xã hội do Nhà nước bảo đảm, để người già tiến tới đều có lương hưu; tầng hai là BHXH do Nhà nước tổ chức như hiện nay; tầng 3 là hưu trí bổ sung do DN và NLĐ thỏa thuận, giao kết với tổ chức cung cấp dịch vụ…

Đặc biệt, Đề án tiếp tục đặt ra vấn đề điều chỉnh tuổi hưu, thời gian điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu từ ngày 1/1/2021. Dự kiến, NLĐ bình thường, trong điều kiện lao động bình thường sẽ tăng thêm mỗi năm 3 tháng hoặc 4 tháng cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi. Những đối tượng lao động đặc thù có thể nghỉ hưu sớm hoặc muộn hơn tương tự như hiện nay.

Các chính sách BHXH hỗ trợ lẫn nhau, đặc biệt là chính sách BH thất nghiệp với BH hưu trí, tử tuất. Thiết kế lại các chính sách để BH thất nghiệp chú trọng đến các giải pháp phòng ngừa giảm thiểu thất nghiệp, thay vì tập trung giải quyết hậu quả như hiện nay. Điều này sẽ duy trì được việc làm, tăng được số người tham gia BHXH, tạo sự gắn kết giữa NLĐ với cộng đồng DN. Những DN lớn ít sa thải lao động thì có thể thông qua quỹ BH thất nghiệp đóng vào đó và dùng quỹ đó hỗ trợ cho các DN nhỏ, năng lực cạnh tranh yếu.

Ngoài ra, trong Đề án có nhiều nội dung cải cách khác nữa, ví dụ như cải cách việc xây dựng chính sách, tổ chức thực hiện; các cơ quan BHXH sẽ hoạt động chuyên nghiệp, hiệu quả hơn.

* Để chính sách đi vào cuộc sống, mang lại hiệu quả như kỳ vọng, Nhà nước và các cơ quan chức năng cần thực hiện những giải pháp nào, thưa ông?

- Cải cách chính sách BHXH cần quyết tâm chính trị rất cao, sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị- xã hội. Đồng thời, Nhà nước nên có quy định phù hợp để giảm tình trạng hưởng BHXH một lần; sửa đổi các quy định để khuyến khích NLĐ tham gia BHXH dài hơn; nghiên cứu điều chỉnh tỉ lệ đóng vào quỹ BHXH theo hướng hài hòa quyền lợi giữa người SDLĐ và NLĐ.

Việc điều chỉnh lương hưu xã hội nên căn cứ vào khả năng cân đối của NSNN; lương hưu cơ bản nên được điều chỉnh dựa trên tốc độ tăng giá tiêu dùng, khả năng của quỹ BHXH và ngân sách. Vấn đề tăng tuổi nghỉ hưu cần được thực hiện theo lộ trình phù hợp với các yếu tố tăng trưởng kinh tế, giải quyết bài toán việc làm và thất nghiệp… Chỉ có như vậy, cải cách mới thành công.

Trân trọng cảm ơn ông!

Theo baobaohiemxahoi.vn